Thứ Năm, 25 tháng 8, 2022

Gửi lại

Mình đã đến và sống ở SG 761 ngày. Từ những ngày đầu bán sinh bán tử ngoài công viên (Phú Lâm) và rồi gặp được cô Huỳnh Thị Thu Tâm, về làm việc ở CĐ Quốc Tế TPHCM, đến ngày qua với trường THPT Vĩnh Viễn và dạy song song với THPT Đào Duy Anh giữa tâm điểm đại dịch cho đến khi về với CĐ Miền Nam. Sống qua những sống sượng đau thương,  những thăng giáng của nghề, những chan hòa vui tươi lẫn nhọc nhằn vất vả, sống đời trải nghiệm những vinh nhục hận sầu... SG như một dòng sông đã dung chứa nắm muối của mình. Tình yêu đã thăng hoa với nơi đây, nhưng có lẽ duyên trần đã kết thúc, SG ở lại còn tôi sẽ đi tiếp một hành trình không đất hẹn. Những ngày qua tôi đã lặng lẽ nghe tiếng thì thầm của quá khứ, những lời yêu thương lẫn đay đả của những người hiền đã từng kết nối thông qua diễn đàn liên mạng hay trực tiếp bên cạnh. Tôi nghĩ mình chưa cạn vốn liếng tình yêu với chữ nghĩa và đời sống... nhưng lúc này, sau tất cả những chuyện cũ đã qua, những khảo nghiệm đã thấu, tôi muốn cất SG trên gác xép, để hoàn toàn trống rỗng cho những yêu thương mới tràn vào...

Gửi những người ở lại, những thương tổn đã qua, những yêu thương đã từng, những giấc mơ và lý tưởng...bây giờ tôi chỉ biết nói cảm ơn, ơn vì đã đến, nghe, hiểu, va chạm, yêu thương. Tôi trở về, làm một kẻ hoàn toàn vô hại với mọi cọ xát với đời. Sẽ đi đến ngọn đồi cạnh nhà, thắm lại tuổi thơ lần nữa, thả mình trôi theo tiếng sáo mục tử, phủ phục dưới bờ cỏ dày nguyên sinh mà không hề sợ làm run những nhánh cỏ. Có lẽ đó là một điểm tựa, những lưu cửu xanh tươi, những ôm ấp dấu yêu ngọt ngào nhất sẽ thương vớt lấy mảnh tinh thần và trái tim đã vữa nát trong lồng ngực của tôi trong những ngày tháng ly hương.

Cảm ơn SG và không tương hứa một tái ngộ.

Thứ Ba, 23 tháng 8, 2022

Cơn mơ

Chữ nuốt người lao đao

những cơn mộng ác

ú ớ thập thò

ngắc ngơ

lời nguyền Mỵ Châu

cắt cụt đầu đẫm máu

bồn chồn sóng vỗ

thạch sùng ngậm bóng

nhã tiếng chát chao

ộc ra từ màn đêm một màu đen sâu thẳm dòng tinh trùng phụt ngược ứa chảy mịn màng quấn rít da thịt huyệt mộ khuya khoắt giãy chết bóng tà dương.




Tàn phế

Mưa nghiêng

Rỉ rắc rong kinh

Tươi thơm

Kiếp người đa đoan 

Vết sẹo

Tái mủ

Mở hoác chực chờ

Từng trang đời úa màu

Tàn phế chân chữ

Què cụt nhẵn mòn những ngón tay mài đá...






Phác thảo

Năm tháng chừng như quá dài

Tôi có thể nghỉ ngơi vài ngày được không?

Để lòng bình lặng

Rồi phác thảo tiếp

Cuộc đời

Dường như

Chỉ còn lại những tàn 

Những khốc 

Úa nhàu

Đêm đen 

Hung bạo

Ngày dài 

Đơn côi

Hạt mưa 

Rụng đất không nảy mầm

Người vẫn nằm đó

Mồ yên mả đẹp

Tôi phanh thây

Giữa khói mù dốc cụt nằm chờ 

Kết thúc chào mời...






Thứ Hai, 22 tháng 8, 2022

Ma lực đồng tiền

Nói về đồng tiền và quyền lực của nó thì có lẽ chúng ta đã nghe-viết  bằng trăm vạn quyển. Đồng tiền là một thế lực có sức mạnh dữ dội nhất, dù luật pháp, dù cương thường, dù đạo lý, ái tình... cũng không thể sánh bằng, địch nổi ma lực quyền biến phi thường của đồng tiền.

Bởi đồng tiền là bức thiết, yếu trọng và góp mặt toàn diện trên mọi phương diện cuộc đời, cho nên người ta đã xem đồng tiền như một đạo lớn, một tín ngưỡng đẹp nhất trong lòng với sự sùng- phụng tuyệt đối. Và mùi vị đồng tiền cũng đã tan hòa mảnh lương tâm vào những trục lợi bất chính.




Cũng chính hình bóng đồng tiền như con trùng độc hàng ngày nhấm gan đục óc những người đang sủng tín nó. Nhưng ở đời có ai bỏ được mối "nhân duyên nặng nghĩa" với đồng tiền đâu? Có kẻ đã cạo đầu khoác pháp phục y, tưởng sắp qua được "bờ mê man mác" mà khi đối diện với phong thư của đám con chiên đệ tử còn cài số lùi hoàn tục nữa là những người ở tầng đời thường.

Sự dẫn dắt của đồng tiền đã đeo con người đến những đau đớn, khổ sầu... ma lực đồng tiền đã bóp méo sự thật, làm tổn thương chân lý. Những gương mặt u hoài, bán sinh bán tử trên những vỉa hè góc phố, những tiếng vỡ lỡ khóc than nơi gác lẻ, những ngậm cay nuốt đắng... đều bởi vì sự cáo buộc của đồng tiền mà thôi, và tội ác tương tàn tương tặc của nhân loại cũng từ đó mà ra. Thượng đế dường như đã cài trong đầu mỗi thân mệnh một con chíp dục vọng, khiến cho con người không ngừng bị kích động phấn hứng trước sự cuốn rủ của kim tiền.
...........

"Đẹp"

Định nghĩa về người phụ nữ đẹp: Là người có một tâm hồn đẹp lồng trong một thể xác đẹp


Đẹp mà được yêu mới chỉ là đàn bà, xấu mà được yêu là một nàng công chúa


Phụ nữ chơi với sắc đẹp như trẻ con chơi với dao sắc, họ dễ bị thương


Hai bảo vật quí giá nhất cuộc đời là cái đẹp và chân lý, tôi đã tìm thấy cái đẹp trong trái tim đang yêu và tìm thấy chân lý trong bàn tay lao động.






Chủ Nhật, 21 tháng 8, 2022

"Cô"

Dưới lòng sâu cuộn mình cơn sóng dữ
Trên mặt hồ lăn tăn ngạnh phiến tàn (Cành cây cô độc)

Trời đương dông, bập bùng cơn gió rú
Mọc trên vách ngọn cỏ bồng đơn côi (Cô bồng)

Sâu vắng một nẻo đường khuya 
Quán lẻ (cô quán) chơ vơ tựa sầu cô san (ngọn núi đơn côi)

Hun hút ngõ vắng sâu thăm thẳm
Hắt hiu ngọn đèn (cô đăng) phơi sương trắng

Biển trời khoáng dã mênh mang
Cô phàm (cánh buồm côi) một cánh lạc dòng êm trôi

Một màu bất tận xanh xao
Lẻ loi bóng trắng nhạt nhàu xa xa (cô vân viễn)

Giấc ngủ chìm sâu trong miên viễn
Trồi lên cơn mộng của cô đơn (Cô miên)

Đất bằng một khoảng mênh mông
Cô phong (ngọn gió cô đơn) lẻ bóng dọc ngang giữa trời

Mỏng manh cô nguyệt (trăng lẻ) giữa rừng
Bước chân hối hả cô nhân (người tìm đường cô độc) tìm về

Gác lẻ (cô các) buồn thiu chiều quan tái
Khách đà lên ngựa cô chường (nỗi buồn cô độc) dặm xa














Thứ Sáu, 19 tháng 8, 2022

*

 “Cửa đã mở rồi

…Chàng trai ta vừa ngâm vừa hát,

Vừa nhìn về tương lai, ung dung tiến bước”

                           (Việt Phương)



*

Tôi muốn cắt đứt mối lương duyên nặng nghĩa với nghề dạy học. Nhưng cũng không chắc có thể chống lại thiên mệnh, vì hiện tại chưa nhìn thấu con đường nào khác. Lần này tôi lại linh cảm mình sắp trở về dạy học, nhưng tôi lại không còn nhiệt huyết với nghề. Thậm chí sợ nó, ghét nó, rủa nguyền nó. Nhưng cuộc đời không ai có quyền được đứng hình, sẽ bị đuổi xô theo dòng sông định mệnh. Giữa cái xô bồ của SG này không thể làm một người hướng nội, không thể đòi hỏi sự tĩnh lặng an yên. Buộc/ bị/ được dấn thân, nhập cuộc điên cuồng đó mới là đích thực của cuộc đời. Tôi muốn thay đổi nhận thức của bản thân, tôi cự quậy quẫy đạp tìm lối thoát cho sự bế tắc này, nhưng càng vùng vẫy càng chết đắm. Tôi biết làm sao, đi đâu giữa những sống sượng đau thương của cuộc đời. Tôi muốn là kẻ thất học vô đạo, người trong bao, không gia đình, một sinh thể phù du hiển vi nào đó hoàn toàn vô giá trị với mọi lý lẽ ở đời.



Nghề buôn bán Như Lai

Mấy ngày qua trên diễn đàn liên mạng, cộng đồng được chứng kiến sự vụ "xích mích" giữa hai CEO của công ty BA VÀNG và công ty GIÁC NGỘ. Người thì nói là "con gà tức nhau tiếng gáy", kẻ nói xung đột chia phần, kẻ có lòng thì khuyên "gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau". Thực ra thương trường nào chả là chiến trường, thương thì gian, gian tham mới có thể sinh ra giá trị thặng dư...Từ các biểu hiện biến dị nơi cửa từ bi thời gian qua, ta nhận thấy vấn đề tôn giáo nóng hơn bao giờ hết.

Như Lai đã là con người của Lịch Sử, những gì ông khảo nghiệm, nhận thức, đúc kết đã thuộc quá khứ xa lạ. Những thứ còn lại được truyền thừa bằng ngôn lời với vô số dị bản không thể xác định rõ. Cho nên ngày nay con đường cốt lõi của Như Lai đi đã bị phân cắt ra nhiều nhánh/ dòng với vô số những biến tướng, dị dạng. Chùa chiền đã trở thành một doanh nghiệp, dùng Như Lai để đánh lừa sự si ám mông muội của những tín đồ ngoan đạo và trục lợi bằng đồng tiền bố thí của họ. 

Khi hành vi buôn bán Như Lai trở thành một nghề thì mọi giá trị đã bị hoán đảo, mọi giới hạn đã bị phá bỏ, mọi đạo đức, luân lý, nền nếp cổ truyền, nét đẹp văn hóa sẽ bị xô đổ. Nhà chùa mọc lên như nấm, những kẻ gọt đầu mặc áo sơ mi nâu gia nhập vào băng đảng buôn thần bán thánh ngày càng nhiều và đang thao túng hoạt động thực hành nghi lễ tín ngưỡng trên khắp đất nước. Chùa chiền bỗng dưng trở thành nơi huyên náo, tụ điểm du lịch, nơi để sinh lợi phát lời trên những phù phép giả trá nào là thỉnh oan hồn trái chủ, đốt vàng mã, cầu siêu, cầu vong, khất thực, gửi hương linh lên ăn mày cửa Phật, nào những hành vi ăn chơi thác loạn, những trò thư phù hư ảo, những sự việc đăng đàn phát ngôn thiếu chuẩn mực, hiểu biết về đạo của các nhà tu hành đã phần nào vạch trần chân tướng trá hình giả dạng nơi Tăng-Ny, chốn tịnh thất.




Hệ quả là cả xã hội sẻ hỗn mang trong việc nhìn nhận những giá trị đích thực của Phật Giáo. Chiếu theo kinh con tê ngưu của Phật Tổ ta sẽ thấy rõ con đường của Đức Phật là con đường giác mê khải ngộ, khử ám hồi minh, con đường tránh xa vạn lỵ những mối ràng buộc của huyết thống, nhân cảm ở đời để làm một kẻ hành nhân nẻo vắng, thực hiện hạnh sống một mình như con tê ngưu. Chính vì thế Đức Phật đâu khích lệ sự phơi bày, đăng đàn diễn thuyết hay là thực hiện những thực hành nghi lễ ồn ào đảo lộn làm xáo trộn nơi cửa thiền vốn dĩ tịnh vắng linh thiêng. Sự huyên náo không phải trạng thái của chùa chiền, đó là miền tịnh thổ cần sự im vắng đến tuyệt đối, thì những nhà chân tu mới có thể làm chủ được sinh già bệnh chết và thực hiện được lý tưởng giải thoát.

Chùa chiền của Đức Phật chỉ là phiên lá đơn sơ, của cải của Đức Phật là tấm nhẫn nhục y che thân, tinh thần của Đức Phật là lòng vô cầu vô lượng. Phật Tổ sống như con Tê Ngưu lánh hoàn toàn những nối kết thông tục đời thường. Phật cũng ít khi bước lên giảng đàn để giảng đạo. Người truyền đạo bằng năng cảm và kiệm lời tối đa. Để tránh tâm vọng động, Ngài luôn tìm cách đặt mình bất động để hoàn toàn tĩnh tâm và siêu thăng thoát tục. Thế nhưng học trò tự xưng của Ngài thời nay ưa sự náo nhiệt, biến chùa chiền thành nơi cung vàng điện ngọc. Những công trình được xây dựng bằng hồn thiêng sông núi, hàng ngàn xác gỗ thân cây ngã xuống, gây bao hệ lụy cho môi trường sống của các loài động vật và cả nhân loại. Điều đó đi trái lời Phật dạy. Các ngày hội tôn giáo được thực hiện hoành tráng, gây nên cảnh chen lấn xô đẩy, và những trò cúng kiếng phản cảm, phản văn hóa, thể hiện sự bạc nhược của nền tôn giáo nước nhà, mà đặc biệt là nơi tín ngưỡng Như Lai. Trong khi các công trình hoành tráng bỏ hoang, chỉ lác đác mấy ông trọc đầu đi vào đi ra, thì ở trên đất nước bao nhiêu cảnh người không nhà, đang bán sinh bán tử nơi đầu đường xó chợ. Bao nhiêu những kiếp người đang điêu linh nơi cùng non tận thủy với đời sống tạm bợ không biết đến ngày mai. 

Suy cho cùng mỗi người một nghiệp, ai cũng có nỗi khổ niềm đau riêng. Nhìn rõ những bất công, suy đồi, mất thăng bằng trên khung trục nhân sinh, nhưng rồi cũng phải đành chấp nhận. Bởi lẽ "lòng ta thành con rối, cho cuộc đời giật giây". Phải chăng, chúng ta đang là con rối trong bàn tay con tạo, ngẫm ra thì đắng mà đành phải ngậm đắng nuốt cay...






TÌM NHAU

Lối em về lau chạm ngực

Heo may buồn thì thầm to nhỏ

Gương mặt úa nhàu trên nền thời gian quạnh vắng

Ai khóc, ai cười loài nhện giăng tơ lưới bẩy giọt sương.


Em miết thời gian xóa dấu vết cái nắm tay đầu đời

Bờ cỏ dày nguyên sinh vẫn xanh tươi trên nền trời xám ngắt

Giữa không trung bời bời một bụng gió cào bờ trường rạn nứt

Anh đã thành rêu phong tháp cổ

Trườn u hoài qua bão táp phong sương

Dắt em qua miền cổ tích, nắm tay nẻo vắng, sao mờ trăng lặn, cuộc hành trình không đất hẹn bổng hóa người dưng.





                                                                         

Thứ Năm, 18 tháng 8, 2022

*

"Em theo đời cơm áo.
Mai ra cùng phố xôn xao.
Bao nhiêu ngày yêu dấu tan theo

Ta ôm tình nặng trĩu
Nghe quanh đời mưa bão,
Ôi những ngày yêu dấu bọt bèo."

                  (Trịnh)

Lời hát như đâm thúc vào tâm trí, rỉ ứa ra bi kịch của cả một thời trai trẻ xanh tươi, giờ đã hư hao, chìm lút như con tàu khát tình yêu và tự do chết đắm. TCS đã thốt lên "Ôi những ngày yêu dấu bèo bọt", cuộc đời là những phiến đoạn hình ảnh lắp ghép. Quá khứ như giấc mơ, cơn mộng, như lời nguyền dưới đáy thời gian. Thi thoảng thức động tâm trí, đốt đống tro tàn mà nhen lò kỉ niệm, đặng sưởi ấm cho đỡ quặn lòng đau...:

"Nơi em về ngày vui không em
Nơi em về trời xanh không em
Ta nghe từng giọt lệ
Rớt xuống thành hồ nước long lanh"




Từ cuộc đời Đức Phật nghĩ về sự giáo dục gia đình

Phật Tổ là một người trần mắt thịt với bầu tâm lý hết sức bình thường. Sinh ra trong nhung lụa của cung điện, được học hành rất sớm, lớn lên trở thành một tráng niên thông tuệ và duyên dáng. Ngài làm Thái Tử, niếm trải hương vị của hạnh phúc theo lẽ thường. Thái tử cũng lập gia đình, làm chuyện chăn gối và sinh con đẻ cái.

Sống trong gia đình giàu có bậc nhất (Hoàng tộc). Định sẵn là người kế vị Ngai vàng. Phụ vương của Ngài hưởng trọn viên mãn của vinh hoa phú quý, quyền lực và  danh vọng. Vua cha cũng mong muốn Thái tử hoan lạc mỹ mãn, không bị những tang thương của thời thế dày vò, nên đã dùng dục vọng bảo bọc Thái Tử. Nhưng cuộc gấm hoa, bướm lả ong lơi không làm cho Thái Tử thỏa mãn cơn “lửa đói khát” và lòng mưu cầu sự vô cầu. Bằng sự mẫn thiệp, thông minh, với tinh thần sáng tạo, khám phá không ngừng. Thái Tử linh giác được ngoài kia cuộc sống với bao điều cần thể nghiệm. Cho nên, Ngài đã thực hiện thoát du, để tìm hiểu nhân thế.




Từ câu chuyện trên, ta hiểu rằng, bạo quyền, dục vọng không thể ngăn nỗi chân lý. Và nhung gấm lụa là không thể làm lòng người an/ yên. Dạy con theo cách của Vua cha (cách của nhà giàu) hoàn toàn lạc lối. Mỗi đứa trẻ lớn lên có cốt cách và cảm nhận cuộc sống riêng, tác động của giáo dục rất lớn trong việc hình thành nhân cách. Nhưng với Thái Tử là người đặc biệt, luôn có lối đi riêng cho đời mình. Vua cha đã nhầm khi tưởng rằng Ngai vàng và châu ngọc có thể trói buộc được tư tưởng của một Thánh nhân.

Ở Thái tử, sinh ra đã bẩm sinh một trái tim từ bi và yêu thương, cho nên chỉ cần lướt qua sự tang tóc ở đời, cũng đủ để Ngài nhận ra cõi nhân gian là cơ cực tội nghiệp. Và gốc rễ của con người trên thế gian, khi lọt lòng mẹ vào đời đã mang cái nguyên lai thiện lành. Cách giáo dục đúng đắn sẽ làm cho đâm mầm nẩy lộc những trái tim giàu lòng yêu thương. Nhà giàu khi đủ đầy, phủ phê vật chất thường lầm tưởng như Vua cha, rằng gấm cuốn vàng cân là thứ thực hữu duy nhất. Chỉ cần cho con tưới tắm trong hạnh phúc sa hoa đó là thể hiện lòng thương con vô hạn.

Vật chất là bi kịch của con cái, nếu như nó không được gội rửa bằng cõi tinh thần và chiều sâu nhân đạo. Hiện trạng cuộc sống ăn chơi, sa đày vào trò đời phù phiếm của con nhà giàu đang phổ biến trong xã hội. Các “Thái tử” đã lớn lên trong hương vị của đồng tiền và quyền lực nên chỉ biết thụ hưởng và đòi hỏi về lợi lộc. Khi trưởng thành có thể sẽ hành động “trái lẽ tạo hóa” trên nhiều phương diện. Cho nên cần thiết phải tư duy lại việc dạy con trong mỗi gia đình.

Thời trai trẻ Đức Phật đã từ chối những thứ thuộc về “đàn ông” để tìm đường diệt khổ. Nhưng những lựa chọn cõi tinh thần ở đời như Thái Tử đâu nhiều. Để dạy con tìm về đạo lớn của Đức Phật không phải điều dễ, vì đó là “Duyên” . Nhưng điều chúng ta muốn nói đến là sự định hướng lương tâm cho con cái về điều thiện, biết sẻ đắng phân cay với người, biết trắc ẩn và vị tha để sống tốt đời đẹp đạo.

Khi vật chất đã dư thừa thì lại càng dễ dạy con tìm đến cõi tinh thần, thấu hiểu chiều sâu bi kịch. Hãy cho con tìm về cửa Thiền, vì ở đó luôn định hướng cho con người đi đúng đường chân lý, con đường của sự buông bỏ và giải thoát. Khi ta không còn chấp vào sa hoa tình lụy thì ta sẽ bớt đi hận sầu bi ai. Vì thế, hãy một lần đẫn đứa con đến chùa, để con nhìn thấy vị Giác Giả lớn nhất của dân gian, quỳ dưới chân Ngài mưu cầu sự được cho đi, được dâng tặng và cống hiến.


Tìm đến bờ Giác như Đức Phật cũng giống chúng ta đi tìm một công việc hoặc đi tìm hạnh phúc ở đời. Sẽ trải qua những suy nghĩ, ưu tư, mệt mài và lao khổ mới đạt tới được vinh quang, cũng như trước khi thành đạo Đức Phật đã khảo nghiệm qua sự tu trì khắc khổ. Hãy dạy con điều đó, đừng cho con tấm thảm hồng của gia tài điền sản. Bởi vì đời chòng chọc gai nhọn, chỉ đạo hạnh là thứ bền bỉ trường tồn cùng vũ trụ. Nếu không có sự nâng đỡ của đạo đức thì những bước đi của thân thể có vững chăng? Nhân quả hiện hữu, thiên lý công bằng nghiêm trị. Cần dạy con hướng tới điều nhân nghĩa, cho con rời ô tô tiếp chân trần trên vĩa hè đường phố, để nhìn những phận người trong cuộc sống. Từ đó trẻ sẽ biết được muôn màu khổ đau, và yếu nghĩa của một đời người là diệt khổ cùng chúng sinh, đừng ích kỉ chỉ biết sống cho riêng mình.

     

Bàn về điểm số

Đánh giá là “trái tim” của dạy học. Đúng vậy! Trong dạy học người ta thường dùng khái niệm “cho điểm”. Nói đúng hơn là dùng điểm để “trả công” cho thành quả lao động học tập của học sinh. Nhưng học sinh đến trường đâu chỉ để làm bài kiểm tra, mà cần có cuộc/ đời sống xã hội thông qua giáo dục. Việc để tâm đến thành tính, những con điểm “cứng nhắc” đã làm chúng ta mất đi mục tiêu quan trọng của việc trồng người.

Câu hỏi đầu tiên của một bà mẹ với con trẻ của mình khi đi học về là “hôm nay con được mấy điểm?”. Điểm số dường như là căn cứ duy nhất để người lớn đong đếm về năng lực của con em. Chính vì thế học sinh ở trường cũng chạy đua cho những con điểm chứ không phải chạy đua với kiến thức. Trên cuộc đua đó, có thể bỏ qua chất lượng, miễn sao hài lòng các bậc mệnh phụ và tự thỏa mãn, dối gạt chính mình. Chính vì những điều trên mà điểm đã trở thành một lời nói dối tinh vi. Nói dối ngay cả chủ nhân của nó, hay chính chủ nhân tự huyễn hoặc lòng mình, cho rằng đó là kết quả lao động nghiêm túc của chính mình và xứng đáng được ca tụng.

Điểm không chỉ có vai trò đánh giá, nó giống như một công cụ để “ra đòn” sửa phạt học sinh. Điểm buộc học sinh kỉ luật và nghiêm khắc hơn trong học tập. Nhưng cũng không tránh khỏi những tiêu cực, giả trá, giáo viên dùng điểm để thiên vị, ưu ái và tạo áp lực cho học sinh. Dùng điểm để ru mê, vuốt ve lòng tự mãn của học sinh. Học sinh dùng mẹo để ghi điểm, gian lận để ghi điểm và thậm chí phụ huynh dùng vật chất để đổi chác thành tích. Mặt trái của điểm số có sức công phá mạnh mẽ làm hủy hoại cả nền giáo dục.




Chạy điểm không phải hi hữu trong xã hội giáo dục Việt Nam. Những vụ lớn, nhỏ, đã được tố trần. Thiết nghĩ cũng do sự quan/ trầm trọng hóa việc sử dùng điểm để làm “trái tim” của việc đánh giá kết quả học tập của học sinh. Chúng ta ưa chuộng hình thức mà dùng hình thức để “phù phiếm” lấp liếm nội dung đầy khuyết nhược.

Những cuộc thi bằng chữ, mực, giấy phổ biến, thiếu đi sự quan sát, đánh giá thông qua hành vi sẽ không tạo ra sự phát triển toàn diện giống như khẩu hiệu mà giáo giới và xã hội vẫn tung hô. Chúng ta đang thực hiện một cuộc cải cách lớn trong giáo dục, nhiều những biến đổi tích cực, nhận thấy có những sửa đổi quan điểm về việc đánh giá cho điểm trong dạy học. Thế nhưng, gốc rễ của vấn đề từ nhận thức, phải tác động thay đổi từ nhận thức để giáo viên, học sinh, phụ huynh cả hệ thống giáo dục hiểu được rằng điểm số không là tất cả, thậm chí không là gì cả.

Điều quan trọng của một con người thời đại mới là tính hành động. Ở trường cũng nên như thế, hãy giám sát quá trình chủ động và thái độ tích cực của trò hơn là đánh giá thông qua làm bài kiểm tra. Vì bài kiểm tra trên giấy không thể phản ánh được năng lực quan trọng nhất của học sinh. Nó chỉ giúp chúng ta thấy được khả năng ghi nhớ, tái hiện lại kiến thức của trò. Bản thân chương trình dạy học cũng đã bộc lộ nhiều “cứng nhắc”, kiến thức nặng nề, hướng tiếp cận cũ mòn và sự chuyển động không gian sư phạm lặng yên nhọc nhằn. Học sinh dường như đóng vai phụ mờ nhạt trong bối cảnh sư phạm. Cộng thêm việc cho điểm, để ý điểm từng ly, từng tí của giáo viên với việc đánh giá học sinh đã tạo nên một môi trường giáo dục giả dối thực sự tinh vi.




Để thay đổi tư duy cũ về điểm số, cần quả quyết bỏ hoàn toàn vai trò của điểm số. Sử dụng một cách đánh giá khác, dựa trên thái độ mà ưu tiên. Các môn khoa học xã hội thì đánh giá thông qua những bài thuyết trình, những tranh luận hùng biện, những kiến giải mới về đời sống, những thái độ đối xử với đời sống…trò được học về lòng hiếu kính, nhân đạo, trò viết rất hay về điều đó nhưng thông qua một câu nói thô thiển của trò, một hành động trái với những gì đã viết ra thì lập tức chúng ta có thể kết luận lại về kết quả học tập của trò. Với các môn khoa học tự nhiên cũng nên nhìn hành vi mà đánh giá kết quả. Đừng ép trò phải vật lộn với những mớ tính toán mang tầm cao tư duy mà tính hành dụng thực tế chẳng được bao nhiêu.

“Thái độ hơn trình độ” cho nên đừng để cho sự háo danh lên ngôi. Hãy nêu cao nghĩa vụ làm người trước khi nói về nhân quyền. Hãy dạy cho trò về bổn phận trước khi đấu tranh cho quyền lợi. Hãy nhìn vào tính chủ động trong hoạt động tìm kiếm tri thức của trò để định lượng một kết quả chân xác nhất.

Thứ Tư, 17 tháng 8, 2022

Cha!

Cha ôm tôi vào lòng, hôn lên vầng trán trỉn mồ hôi lúc tôi vừa đi học về. Khoảnh khắc đó vào năm tôi lớp một, và là dấu ấn duy nhất về tình cha thiêng liêng còn đọng lại trong tâm trí của tôi ở buổi đồng ấu.

Cha- như căn nhà oằn lưng hứng chịu gió mưa và bao nghiệt bão. Đời trải “mưa Âu gió Mỹ” ra bắc vào nam để đổi chác mưu sinh, cha già đi trước tuổi, mái đầu phủ hoa tuyết, nước da xạm, cánh tay lao động vạm vỡ vươn dài. Cha ít khi thân mật, gần gũi mà cứ âm thầm, lặng lẻ, thương con đứt ruột sau vẻ lạnh lùng xa cách.

Cha đi bộ đội, năm 1987 sang Đức làm ăn, ba năm sau khi Đông- Tây tan rã, cha trở về sống kiếp thợ hồ. Và đến năm 1997, chú trâu nhỏ chính thức được nghe tiếng sáo mục tử, tôi ra đời trong niềm hạnh phúc vỡ òa của cả gia đình. Lớn lên trên mảnh đất cằn cỗi đang nằm ải chờ người gieo trồng. Cha mẹ nuôi ba chị em ăn học, những ngày tháng tuổi thơ chật vật, gánh nặng cơm áo ghì sát đất, khiến cha không ít lần gieo cuồng phong nghiệt bão.

Nhớ những buổi đợi cơm cha đi làm về. Nếu tiếng xe máy về sớm thì chị em tôi thở phào nhẹ nhõm, còn muộn hơn thì xác định cơm chẳng ngon, canh chẳng lành vì lúc đó cha đã say khướt. Miền nông thôn, nghề thợ hồ vô cùng vất vả, đắm sương gội nắng. Cái nắng của đất gió lào cát trắng như rang trong chảo dầu, xây dựng công trình cực nhọc vất vả, mồ hôi trộn vữa xi lấm láp. Sau những giờ vật lộn, người ta thường tìm đến rượu để về nhà được ngủ giấc lành, cảm giác lo toan không làm phiền đến tâm trí. Cho nên, tuy là sự lựa chọn  nghiệt ngã nhưng sẽ tốt hơn là không có ma men, màn đêm sẽ chỉ còn lại đau nhức. Có những người, chén rượu sẽ giúp dễ đi vào giấc ngủ, nhưng với cha lại tạo nên sự mất kiểm soát, thiếu nhã nhặn khác thường, điều đó đã gieo nỗi sợ hãi cho chị em tôi. Giờ kể lại chặng đường đã qua, ai cũng mĩm cười vui vẻ, bởi vì những khuyết nhược nhỏ bé đó không là gì với vai trò, tình cảm, sự hi sinh của cha dành cho gia đình này.

“Đường danh vọng hôm nay về muộn quá/ đau nhức này lại đổ xuống tuổi thơ”, có lẽ chị em chúng tôi cũng sẻ cho cha những nỗi đau thể xác và sự dày vò tinh thần. Ngày đó, hiếm khi có một niềm vui trong bữa cơm, xới vội, nuốt nhanh, có khi nước mắt dàn dụa, cũng có lúc bát canh bị hất đi, đỗ vỡ...Nhưng ba chị em tôi thấu hiểu, tất cả đều do những áp lực của cơm áo gạo tiền và chưa bao giờ cha đánh đập chúng tôi. Những đồng tiền mỗi tháng ba đem về tròn trịa cho mẹ, đã thể hiện sự hết lòng của cha với gia đình. Cha trơ cảm, lần hồi mưu sinh mà quên đi cách cảm nhận cuộc sống, tôi không thấy cha nghe một bản nhạc, xem một bộ phim, ăn một miếng ngon bao giờ. Bây giờ đã qua cái thời ngặt nghèo đói khổ, cha mua thức ăn về mà không ăn nhiều, cứ nhặt ba món rau canh ăn vã. Đó là cách nhường nhịn, thương yêu trong bản năng của người làm cha mẹ.

Thế sự cũng dần đổi thay. Hai chị học xong, lập gia đình, chia sẻ với cha mẹ gánh nặng nợ nần và rồi nhờ sự chăm chỉ của cha, sự đảm đang vén khéo của mẹ mà nhọc nhằn cũng dần vơi đi, đi theo nợ nần cũng là tuổi trẻ, sức khỏe của cha mẹ. Cha không còn đủ sức làm thợ hồ nữa, xin đi bảo vệ cơ quan và cha đã trở lại là chính mình. Một con người sâu lắng, quan chiêm thấu suốt lẽ đời, một con người luôn tiết kiệm hết mức để đảm bảo cho tôi học xong Đại học.

Ngày tốt nghiệp, cầm trên tay tấm bằng giỏi của nghề sư phạm, xác định rằng “phấn là vôi mà vôi thì bạc”, sẽ khó để xin việc ở đất xứ Nghệ. Một buổi chiều ngồi hóng gió trước cửa cạnh bờ ao, cha nói với tôi rằng:

- “tình hình như nào con?”. 

Tôi trả lời:

- “cha có định hướng gì cho con không?”.

 Cha nói:

-  “Hướng nam”. 

Tôi trả lời cha rằng:

-  “Con cần suy nghĩ”.

 Cha tiếp lời tôi rằng:

- “Cha chỉ cho con tấm bằng, đó có lẽ là cố gắng có ý nghĩa nhất và sau cùng, còn lại con hãy bay theo sự may rủi của số phận”.

Ngày 12/11/2020, tôi xách va li rời quê nam tiến, cha đặn tôi “nếu không đủ duyên con hãy trở về, rồi ta lựa chọn con đường khác”. Thoáng nhìn mắt cha thấy một nét buồn trĩu nặng, cha đã buộc lòng để tôi ra đi và cũng an ủi tôi rằng, đừng ngần ngại trở về khi cơ cực và nhọc nhằn quá mức, quê hương còn có vòng tay cha mẹ luôn cởi mở đón con về.

Máy bay cất cánh, quê hương ẩn mình sau bức mành trắng xóa của mây trời. Tôi nghĩ nhiều về cha mẹ, về những hi sinh vất vả. Về những tiếng lục cục rít thuốc lào trong đêm, cha đốt cuộc đời mình bay trong làn khói. Cha vẫn thế nếu không say thì người tẻ lặng vô chừng, người nói ít, người nội tâm, người rất mực lo toan cho sự bình yên của con cái.

Sài gòn mùa dịch, Cha vẫn gọi cho tôi tuần một lần, cười nói vui vẻ “tình hình chung con ạ! Cố gắng vượt qua”. Tôi biết rằng có lúc không ổn, tâm trạng vô cùng. Nhưng tôi cũng hiểu, cha đã xua đi tâm trạng tuyệt vọng cho tôi bằng những tiếng cười “máy” không hề mang cảm xúc thật. Cha đang rối bời, đang lo lắng, đang bồn chồn nghĩ cho tôi. Cha tỏ ra vẻ cứng cõi, lạc cảm mà thực tâm luôn muốn tôi trở về ngay và liền bằng cách nào đó. Nhưng hiện giờ trở về là rất nguy hiểm, cho nên tôi vẫn lựa chọn ở lại để trải qua thử thách này.

Đời cha đã trải qua sóng gió, biết mấy phong sương, lo toan cực nhọc  mà được mấy an vui. Giờ cha cũng bước qua bên kia sườn dốc của cuộc đời, sức khỏe yếu hơn, nảy sinh các vấn đề về xương khớp, đã đến lúc cần được nghỉ ngơi. Nhưng bởi vì con trai của cha đang giăng buồm giữa tố, còn nhiều năm tháng nữa dấn thân vào tục lụy để vững vàng đôi cánh. Cho nên, cha vẫn lao lực với cuộc vay trả ở đời, vẫn xa mẹ đi làm, vẫn quán xuyến bao nhiêu bề bộn gia đình. Giờ cha vẫn tỉ tê với chén rượu, nhưng uống vào cha thăng hoa những cảm xúc yêu đời, không ẩn ức, hằn học như trước. Mong ngày đoàn tụ, chị em tôi về quây quần bên bữa cơm để hạnh phúc gia đình được mãi nhân lên.

Nhớ mẹ!

Tôi ly hương lìa tỉnh, làm “giáo khổ” trường tư, để lại mẹ ở quê, ra vào trong căn nhà đầy hương hoa sữa. Nơi đất khách quê người, nghe vọng tiếng chuông giác ngộ thoáng trong khói hoàng hôn, mà cầm lòng không đặng vì nhớ những buổi cơm chiều xới vội...

Tôi lớn lên trong tình thương gia đình, nơi mảnh đất Nam Đàn đầy nắng gió. Mảnh "đất cổi cỏ cằn" đó đã được những câu hát ru của mẹ tưới tắm mềm mại hơn. Để rồi tôi mang theo mùi vị của những câu ca dao đi gần hết nửa đời người.

Mỗi buổi chiều dọc đường thiên lý, khi ngọn đèn đường trong xóm lập lờ lóe rạng, thì cũng là lúc tôi chờ mẹ về từ đồng bãi, gánh rơm bó mạ trên vai, dáng mẹ lăn lẳn trong bóng chiều chạng vạng, đi trên ngõ nhỏ giữa hai hàng râm bụt. Mẹ về nhen lên bếp nồng lửa đỏ, bén đượm những hương vị rất mực chân quê.

Tôi đã lớn lên như thế, nơi thôn quê ám mộng, trong vòng tay bao bọc của cha mẹ, tình yêu thương, lòng chia sớt là bài học giáo dục gia đình chủ đạo mà cha mẹ đã trao gửi cho tôi.

Tôi nhớ đến bếp nồng lửa đỏ với hương cốm mới ngon lành. Chỉ nơi gia đình mới có lửa sưởi ấm cho người đói rét, nấu chín cơm cho kẻ đói lòng. Mẹ từng kể tôi nghe về ngọn lửa rằng: “Đức Phật nói đời người phải trải qua bốn loại lửa: Lửa thề nguyền, lửa đói khát, lửa dục vọng và lửa hỏa táng”. Mãi sau này, trong quá trình dạy học và thực nghiệm cuộc sống, tôi mới nghiệm ra yếu nghĩa trong lời mẹ.

Mẹ đã cho tôi những bài học đáng quý, mẹ đã kết nối tôi với đạo, tôi chở đạo vào đời, tôi chở đạo thông qua những bài giảng để hóa lành tâm hồn cho những người học trò.

Thời trẻ bố tôi đi bộ đội rồi mưu sinh xa nhà, cho nên mọi gánh nặng hậu phương đều ghì lên đôi vai của mẹ. Mẹ tôi, một người phụ nữ nhẫn chịu, bình tĩnh và đã vụng trộm rơi những giọt nước mắt tủi phận. Thế nhưng vịn lấy niềm tin về sự khôn lớn, trưởng thành của những đứa con để mẹ luôn vững tâm, vững tin, đảm đang, vén khéo dẫu biết bao nhiêu biến cố trắc trở.

Ngày vào lớp một, trên chiếc xe đạp cọc cạch mẹ chở tôi đi học mỗi ngày, về nhà mẹ chỉ tôi học mỗi đêm, mẹ nuôi dưỡng trong tôi đam mê nghề dạy học. Mẹ đọc tôi nghe nào những câu Thánh điển của Đức Phật, nào “Hịch Tướng Sĩ”, nào “Tắt Đèn”, nào những bài thơ của ông ngoại... với tư thái rất dân gian, mẹ đã dẫn dắt tôi vào niềm vui với văn học để ngày hôm nay tôi là một giáo viên dạy văn.

Mẹ tôi đã tỉ mẫn chăm sóc sự học, sự đọc cho tôi từ rất nhỏ, mẹ đã ngâm trái tim tôi trong “dung dịch” của những câu hát ru ngọt ngào, những lời Phật dạy đầy trí huệ, để tôi lớn lên trong hương thơm của tình mẹ thuần khiết.

Lên thành phố đi học, mẹ gói gém những thức quà quê, xôi, bánh cho tôi mỗi tuần. Mẹ lại tiếp tục công việc đồng áng, còn bố lại xa nhà đi làm, cuộc sống lần hồi qua ngày đoạn tháng, rồi cũng đến ngày tôi tốt nghiệp Văn khoa, thành tích không tồi và tất cả nhờ vào tấm lòng người mẹ.

Ở quê, khó khăn trong vấn đề việc làm, mẹ nói rằng: “Mẹ muốn con sống đời ý nghĩa, và cái ý nghĩa đó nơi nghề dạy học cho nên mẹ không ngần ngại xa con”. Một khoảnh khắc bịn rịn, tôi chọn Sài Gòn để lập nghiệp, ngày ra đi mọi việc vẫn diễn ra bình thường, một cuộc chia tay vui vầy. Nhưng có biết đâu khi máy bay cất cánh lên bầu trời rộng lớn, cũng là lúc tôi hiểu bao nhiêu cơ sự cuộc đời. Bốn triệu bạc lẻ nhiều tờ gói vào tấm khăn, cùng hai cuốn vở lưu bút thời còn trẻ mẹ đưa tôi và dặn rằng: “dù gian nan quyết không đổi hướng - chỉ một đường cao thượng mà đi”.

Hành lý của tôi gọn gàng, chỉ trĩu nặng trái tim người. Ngày tôi đi, tháng 11-2020, chân trời ráo kiệt, lạnh, buồn lặng, ngồi trên máy bay lần dở từng trang giấy nhàu, úa vàng, cũ kĩ đọc những dòng, những câu mẹ viết, nhìn nét chữ của mẹ mà nhớ dung dáng của người. Tôi ném nhớ nhung vào hư vô, quyết tâm rời mẹ và đợi ngày trở về.

Tôi ngồi nhớ mẹ, nhớ lại những câu hát ru: “Con ơi mẹ dặn câu này/ Chăm lo đèn sách cho tày áo cơm/ Làm người đói sạch rách thơm/ Công danh phủi nhẹ nợ nước non báo đền”... Những làn điệu, những câu hát mộc mạc, chân thành như hạt lúa củ khoai, ngọn nguồn của những yêu thương ngọt ngào cũng từ đó mà ra. Mẹ đã vì chúng con một đời cày thuê quốc mướn, những đêm ròng thức trắng tìm nguồn nước cho đồng sâu. Tôi mãi là chẽn lúa đòng đòng của mẹ, được mẹ nâng niu, chăm bẵm hàng ngày để cho ra những hạt ngọc trời bụ bẫm. Quê hương nghĩa nặng tình sâu, sao quên được tiếng ru của Người.

Mẹ, con sẽ cố gắng vượt qua thời gian khắc nghiệt này. Dẫu con đang thắt lưng buộc bụng, đang đối diện với những thiếu thốn hiểm nguy. Nhưng bởi vì con vẫn còn có mẹ. Đôi vai tuy không cận kề, nhưng sức mạnh vô hình vẫn tô bồi cho trái tim con thêm phần nhựa sống. Ngày trở về con sẽ gặp lại mẹ yêu thương, Phật sống của đời con. Mùa Vu lan, con muốn gửi đến mẹ lời tri ân sâu sắc, con mong muốn tất cả những người mẹ trên thế gian đều được vui cười hạnh phúc, được trao gửi từ những đứa con những cử chỉ đạo hiếu. Con ôm mang tình thương và lời mẹ dạy đi đến suốt cuộc đời, không lạt phai bao giờ.

                                                              

 

 

*

*Khôn khéo

*Thận trọng

*Kiên nhẫn

*Xảo quyệt

*Yếm trá

*Tự chủ mạnh mẽ

*Bắt chước tài tình

Đó là phương châm sinh tồn của thời đại.




THẾ NHƯNG:

"Thánh nhân đãi kẻ khù khờ"

"May hơn khôn, to lồn vẫn hơn đẹp mặt"



Thứ Ba, 16 tháng 8, 2022

Nghĩ về giáo dục

Một đứa trẻ được giáo dục thuần túy nơi nhà trường, hóa ra lại là một đứa trẻ vô giáo dục. Chính vì thế, sự thực thụ của giáo dục là ở trường đời. Giáo viên cần thiết kế bài dạy trên nền tảng xem: trường đời là trường học, những bài học trong cuộc sống là giáo án. Trẻ con cần được dạy dỗ hiểu theo nghĩa phạm trù rộng lớn: là khiến một đứa trẻ tư duy, chỉ cho chúng điểm đứng để nhìn ra đối tượng, chứ không phải là chỉ đối tượng để chúng nhìn. Giáo dục Việt Nam nặng tính phán truyền, thiếu tôn trọng trong đối thoại tri thức, dẫn đến sự thụ động của học trò trong mọi vấn đề cuộc sống. Nhà trường Việt Nam, xem điểm số là "trái tim" của giáo dục, nhìn thành tích để đánh giá mà bỏ qua việc quan sát quá trình. Và trên đường đua điểm số, ở một nơi nào đó chúng ta đã mất đi mục đích thực sự của việc dạy học.



Sau tất cả

Năm tháng qua đi, mình dùng blog này làm chỗ chứa nước mắt. Những giọt nước mắt sau những đổ nát, sa ngã, trượt dài trong chuỗi mưu cầu dục vọng. Nước mắt đàn ông không thể rơi dưới bóng mặt trời, nên càng phải yếm dấu nó đi trong một khu mật nào đó, và cách giết chết những trang giấy với đời sống trắng bằng những vết mực chứa đựng bao sấp ngửa bồn chồn, buồn giận xót xa và cả những hằn học hận thù ghê tởm của kẻ mang danh nghĩa con người đó là một lựa chọn chân xác lúc này. Mà thực ra, tận cùng của nỗi đau khổ thì cũng không thể chảy ra được giọt nước ép lòng nào. Đó chẳng phải giọt nước mắt hay màu mắt của sự yếu đuối, mềm lòng đáng thương mà nó chứa đầy oán ghét, uất hận như vết trầm lưu minh chứng cho một đời sóng gió đi tìm cầu, đòi hỏi, tham vọng về danh phận, tài phú. 




Đến một lúc nào đó sau những chấp mê bảo thủ về ngày tháng vội đi không được như ý. Tôi lại trở về nguyên vẹn nhịp đập đời thường, đua bơi cùng ngọn bút, trút thả bao nhiêu bệnh hoạn, tắc tỵ, đau đớn, bế cùng vào nơi đây, để phần nào thoát khỏi sông mê bể khổ. Tôi đã ngại vội vã, đã sợ ganh đua, đã thôi ước mơ và không còn băn khoăn về thân phận nữa. Ngôn ngữ đã tỏ tường tôi, tôi tìm đến ngôn ngữ, đi sâu vào lòng tiếng, nở rộng những chân trời khả thể, để yêu sâu đậm hơn với cuộc đời, dưới thăm thẳm nỗi đau trồi sụt lên mầm non sự sống.

Chuyện cái loa phường

Thay cho gõ mỏ ngày xưa, loa phường đã trở thành công cụ thông tin hữu ích một thời ở xứ ta. Liệu bây giờ, giữa thời buổi thịnh hành của công nghệ với hiệu quả ưu việt của mạng xã hội và các hình thức thông báo thông tin khác, loa phường có trở nên lạc hậu, vô dụng và làm phiền đến đời sống cộng đồng tiến bộ hay không?

Loa phường là kỉ niệm của một thời, là tiếng nói công suất của Đảng, là biểu tượng của tinh thần tuyên truyền, tuyên thệ và phục vụ cho công tác tuyên giáo của nhà nước. Loa phường cũng tạo ra niềm vui cho thời buổi thóc cao gạo kém, chưa có đủ các phương tiện công nghệ giải trí như bây giờ. Thế nhưng có lẽ đã đến lúc để loa phương vào viện bảo tàng, bởi vì nó đã hết trách nhiệm lịch sử,  yên nghĩ đó là một sự khoan dung đối với nó. Trong thời buổi dường như đã quá ô nhiễm tiếng ồn và tính hiệu quả trỗi vượt của sự kết nối cộng đồng bằng hình thức liên mạng, thì loa phường nên im hơi bạt tiếng cho đặng bình yên. Những cơn líu lo vào bình minh hay buổi hoàng hôn của loa phường đang thách thức sự nhẫn nại của những người đã ngán ngẫm với âm thanh (âm thanh của cuộc sống xô bồ, của đổi chác mưu sinh...). Tiếng nói loa phương trở thành sự tác động thô lỗ và thô thiển lên thính giác của cộng đồng và không còn phù hợp với bối cảnh thời đại. 



*Nhắc chuyện loa phương nhớ thời gõ mõ có bài vè vui nhộn:

"Chiềng làng, chiềng xã
Thượng hạ tây đông
Con khóc dỗ lại
Chồng đập nín đi"




Màu áo thiên nga

Mặt trời nghiêng nắng

Biển chiều im vắng

Con sóng bạc màu- áo thiên nga.


Trước cung đường Mỵ Châu

Vẫn còn thơm giọt máu

Trọng Thủy tìm chi?

Vết lông vũ ngàn năm bạc trắng.


An Dương Vương bài học giữ nước 

Tới cùng non tận thủy mới nhận ra, thuyết âm mưu.

Trời nổi sóng ba đào, Loa thành đỏ máu

Cơ đồ theo khói bay vào dĩ vẵng.




Ngàn năm công tội

Hậu thế trách cười với người minh quân ấy

Ỷ thế nỏ thần mà quên phần cảnh giác

Để phụ tử tương tàn, nước mất nhà tan...


Tôi trở về Đền Công, thông reo biển hát

Tượng cụt đầu vết cắt như còn đau

Biển chiều nay đổ màu như máu

Khóc cho nàng, người công chúa nước Nam.






Thứ Hai, 15 tháng 8, 2022

Nghĩ cùng, nghĩ khác, nghĩ tiếp cùng những vần thơ bất tử

Khi nhắc tới nhà thơ lớn Trần Mạnh Hảo, tôi nhớ ngay mấy câu thơ từ trường ca bất tử "Đất nước hình tia chớp": "Có phải mẹ Âu Cơ đi dọc trái đất/ Để tìm nơi sinh con lạc cháu hồng/ Mẹ đã chọn giải đất hình tia chớp/ Chọn vùng tâm bão để sinh con". Ngay ở cái tên tập trường ca đã gợi đầy sóng gió đối với thân phận của dân tộc này. Một dân tộc bị rủa nguyền khi phải đeo mang cái định mạng đáng nguyền rủa: sống trong chiến tranh nhiều hơn sống trong hòa bình. Và biến cố không chỉ dừng lại ở việc bị cầm buộc, xâm lược mà còn từ tham nhũng, "tà quyền". Những câu thơ của nhà thơ lớn đó, đã nói lên nhiều vấn đề của dân tộc, ngẫm ra đầy xót xa, chua chát, đáng thương. Trên sọc đất chữ S có một người mẹ đã "sai"(?) khi lựa chọn "vùng tâm bão" để những đứa con sinh ra bị/ được khảo nghiệm qua nhiều mất mát, tang tóc. "Thương cho roi cho vọt", người mẹ của chúng ta thực sự nghiêm khắc và mong muốn đứa con mình được lớn lên với "chân trần chí thép" nên mới đi tìm một mảnh đất "tâm bão" nhiều tai biến, khắc nghiệt để trui rèn, đào luyện sự trưởng thành của những đứa con. Chắc hẳn mẹ đã có "tầm nhìn" (?). Thế nhưng, tại sao sau trường kì chiến tranh, xâm loạn, mang thân phận của kẻ bị/ được bóc lột, cho đến ngày bình yên đất nước lại tiếp tục phải chống nạn "ô xi hóa" về đạo đức, luận lý, về sự gian điêu tham tàn của các thế lực "tà cường"? Lật lại lịch sử, trên đất nước hình tia chớp đã từng mọc lên hai cái cây "thực dân kiểu cũ và mới". Và dân tộc này đã dốc sức đốn ngã nó, đến khi thân cây ngã ngựa trên đất nhà thì theo quy luật tự nhiên vòng đời của nó cũng đến giờ kết thúc. Để rồi khi vỡ lẽ thì sức người đã kiệt, không thể bê được hai thân cây sừng sọ đó ra khỏi khu vườn (hậu quả chiến tranh còn deo đẳng). Rồi thời gian cũng phần nào phân hủy những dấu vết của đau thương, những tượng đồng bia đá, "đỉnh cao muôn trượng" phải nhường chỗ cho những kêu đòi mới. Thời đại đổi thay, dân tộc vẫn còn mang trên thân mình vô số những vết thương hình "tia chớp" và có vô số những "tia chớp" mới đang ngày đêm làm nên những vết thương trồng lên vết thương. Phải chăng đi kèm với sự vĩ đại của "nòi rồng giống tiên" là những đau đớn hi sinh. Bổn phận, sứ mệnh của dân tộc này là truyền cảm hứng về sự "phong thánh", một dân tộc có sức mạnh và chiều kích của vũ trụ tâm linh, khi một anh hùng ngã xuống liền sừng sững mọc lên những tượng đồng bia đá, in ngàn vạn muôn năm chí khí anh hùng lên đồng thau cao nhã. Dân tộc ta chẳng có gì ngoài những hình tượng, biểu tượng, thần tượng đã được huyền hóa siêu thiêng và tiêm sâu vào tâm thức của những con dân "mắt toét chân chì":





1. Đó là một đất nước đã được sắp đặt của "thiên ý" khi cha truyền con nối tạo nên một truyền thống lãnh đạo kế thừa tài năng, trí tuệ từ huyết thống.
2. Một đất nước ít có đối thoại, tương tác cộng hưởng mà đều được sắp dẫn một chiều bằng các động tác tượng trưng có định hướng "sáng rõ".
3. Một đất nước có rất nhiều tầng lớp trí thức, học giả có uy quyền thuộc phái "ưa phát ngôn" nhiều gấp bội lần phái "ưa hành động".
4. Một đất nước mà nhân tài được đào tạo ở ngoại bang và không rời "vinh hoa" và khoa học để trở về. 
5. Một đất nước học giá đang tăng mỗi ngày.
6. Một đất nước đang truyền bá những văn hóa "ăn gà cả lông", bạo lực, giả trá, những thoái hóa về đạo đức, tư cách trên không gian liên mạng.
7. Một đất nước có cái loa công xuất bậc nhất thế giới trong công tác tuyên giáo.

Trên đây là một số "nhược tật" của đất nước đã được "chỉ mặt đặt tên". Tất nhiên đó chỉ là một mặt của vấn đề, đất nước này cũng mang vô số những ưu việt đáng tự hào mà chúng ta cần có con mắt thiện cảm để nhìn nhận và trân trọng:

1. Lòng người nhân đạo và dễ thỏa hiệp, ưa hòa bình và ghét chiến tranh (mặt trái của nó sẽ là sự đấu tranh không dứt khoát, dễ bề bị vuốt ve lòng tự mãn dẫn đến mềm lòng).
2. Một đất nước vẫn còn những miền đất giữ được nếp sống, nếp nghĩ, nếp nhà rất thuần phong và trọng sự sĩ diện.
3. Một đất nước vẫn còn sự chân thật, mộc mạc, chan hòa yêu thương ở những vùng đất cổi cỏ cằn...
4. Sài Gòn là miền đất đầy hứa hẹn và  bao dung đón nhận, ôm ấp vô số hạng người, loại người tìm đến để đổi chác mưu sinh.
5. Một đất nước khi đối chiếu với thế giới vẫn cảm nhận được sự bình yên...

Chủ Nhật, 14 tháng 8, 2022

Sự khai sinh của nỗi đau

Hắn đã giải thoát

Đứng giữa trời cao hay giữa lòng vũ trụ và hân hoan

Tin tuyệt đối vào định mệnh, hắn không phủ nhận nữa

Tin tuyệt đối vào hư vô, hắn phó thác 

Hắn không gặm nhấm nữa, uổng công chờ đợi những điều cao nhã

Hắn không viết nữa, mài nhẵn đầu ngón tay

Hắn không sáng tạo nữa, thế giới đã đổi thay





Hắn đã sống và từng thở than gào thét

Giờ đã cạn mực ráo phím

Hắn không còn bi thương và kinh sợ

Hắn hân hoan trong nỗi hân hoan sự sụp đổ

Khi hắn không viết

Bỗng hắn được phục hồi vĩnh cửu

Biến dịch tựu thành trên tất cả mọi bàng hoàng và đớn đau


Nguồn vui không còn

Hắn liệng bỏ

Mọi tổ quốc, mọi điểm đến, mọi đất hẹn, mọi hành trình sự sống

Giảm khả năng thương vong trong mọi chiều kích không gian

Hắn vô thần lương thiện... trong bất tận nỗi đơn côi.



Thứ Sáu, 12 tháng 8, 2022

Tản mạn về nỗi đau

Tôi hiểu tôi đang sống trong một không gian chẳng đặng bình yên, cuộc sống còn nhiều khúc mắc, rạn vỡ và đấu tranh trên nhiều cung bậc. Tôi biết rằng mình không được quyền lựa chọn xã hội, môi sinh theo ý muốn. Đời đặt chúng ta vào chỗ buộc/ bị gây tổn thương cho nhau. Tôi vừa trải qua một kì thi, tôi hiểu mình không thuộc kiểu người lợi thế trong việc làm một thí sinh, nhưng thực tế cuộc sống đã "rào dậu" tôi vào tính trường quy. Mỗi lần thi là một lần tôi đổ dồn tâm lực, nhưng lại buộc phải trấn an mình rằng: điều tồi tệ nhất đang đón đợi. Để khi kết quả không thành tôi có thể thản nhiên đón nhận nó. Tôi rơi vào trạng thái hồ nghi về năng lực chính mình. Thực sự tìm một cảm giác sống bình yên, nhẹ nhõm, ấm áp với tôi quá khó. Tôi đang lưng chừng giữa dòng đời thiên biến vạn hóa, không biết đâu là bến bờ, đất hẹn, điểm đến, cũng chẳng một đồng hành, dẫn dắt nào đi qua. Có lẽ tôi phải thôi nghề dạy học, bởi vì theo đuổi mục đích phấn bảng là sự hội ngộ với những mất mát trước những gì tôi chứng kiến. Hàng ngày trôi đi, tôi nuôi dưỡng sự bất lực, ưu uất, khổ sầu, những yếu thế, yếm thế mặc cảm khó đòi. Tất cả đang ăn dần tôi từng chút một, và rồi cũng đến một ngày tôi đón nhận những kịch bản khác nhau cho chính mình. Đó là sự tự hủy, sự quên lãng, sự chết đắm, tự buông trôi, phó mặc, phó thác, hay/ hoặc là sẽ rời đời đi tìm một mối đạo, lánh hoàn toàn những cơn lốc khốc liệt của cuộc đời. Tôi đã sống đời phù phiếm, ảo giác, mù lòa và buộc phải xa mặt đất hiện thực thôi chăng. Tôi không thể thích nghi với cái xấu xa, độc ác, giả trá thực đời, nhưng ngược lại cũng không thể thuần nhất nguyên khiết, chuyên tâm tìm cầu một tín điều nào đó. Tôi quá ư mâu thuẩn, quá ư đói khát và không đủ sáng suốt để đi tìm miếng cơm manh áo, cũng như một nơi khu trú ẩn mật. Tôi đang bị ném ra đời sống, thứ đời sống chẳng thuộc về mình...và rồi giăng mắc, đan cài, quấn bện một mớ những ảo tưởng, ngộ nhận, viễn ảnh về một đời sống đẹp như ru. Tôi còn là một kẻ chuyên bị áp đặt bởi những người xung quanh, họ nhìn tôi và tri giác bị đánh lừa rằng tôi rất ổn. Mũi to, mắt tròn, ria mép mọc non, khuôn mạo trung chính, tố lộ một kẻ càn quấy, thấu sáng và có thể thành tựu, truyền cảm hứng về sự thức tỉnh cũng như niềm tin. Nhưng thực ra tôi đầy tật hoạn trong bản tâm, một con người mơ hồ giữa ranh giới thực ảo. Đôi khi muốn điên, muốn rồ dại, muốn hô hét, nhưng không đủ sức bật nhú nên cứ tích đọng những bí tức trong tâm hồn và một ngày thể phách này không thể đủ sức dung chứa sự ào ạt, rối loạn của nội tâm. Tôi biết làm gì, đi đâu, về đâu. Đã có đôi lần tôi đứng trên cao nhìn xuống dòng nước lăn tăn gợn sóng. Muốn được dìm mình vào lòng giếng trũng sâu để được hóa thân, hóa kiếp. Thế nhưng hình bóng của những người thân đang hi vọng, ôm ấp lại hiện về như một sự trói buộc tôi với mặt đất hiện thực. Tôi muốn trốn tránh nhưng chẳng được hoàn toàn, vẫn phải sống một đời sống không tìm thấy ý nghĩa đích thực. Tôi nhận ra, sau một cơn ác mộng là một cơn ác mộng khác. Gối kề lên nhau vô số những nỗi niềm, những nhu cầu được nối kết, hàn gắn, yêu thương nhưng tất cả đều vỡ dần trong mộng tưởng. Học cách chấp nhận đó là bài toán với ẩn số khó giải vô cùng, hay/ hoặc là không có đáp số chăng? Tôi chết như một con cá rô, giãy đành đạch giữa bao nhiêu máu tươi. Máu tràn ra nồng hở vị tanh tưởi của dục vọng về danh- lợi- tình. Cuộc đời được thiết kế bởi một tay chơi vô cùng diệu nghệ và ngạo nghễ: Thượng đế. Tôi là một tay chơi dở cho nên đã bị xem như một trò đùa, trong sự đùa bỡn ngang tàng, phi nhân của hắn. Mà hình như không chỉ tôi, tất cả chúng sinh đều là con rối trong con mắt của đấng quyền năng. Vì sao vậy? đã ngàn vạn muôn năm, bao nhiêu những tư tưởng, triết thuyết, phức tạp luận, bác luận của bọn thầy tu, nhà dòng, học giả, giác giả, sứ giả con tạo tự xưng đều không thể nào đủ uy tín cho một mệnh đề đúng nhất và duy nhất về câu hỏi lớn: "con người từ đâu đến và sẽ đi về đâu khi kết thúc hành trình sự sống"? hóa bụi, tái sinh, đọa lạc hay siêu thăng vào một khu biệt nào đó trong vũ trụ hoành vĩ. Tôi đã trống rỗng từ lâu, lý trí đã không còn quyền năng cho những mệnh lệnh, trái tim cũng dần lãnh đạm u sầu trước những biến đổi bể dâu. Vẻ đẹp, màu sắc, hương thơm, nghệ thuật, âm nhạc, quan hệ tình dục tất cả đã sớm không còn thức động được những hệ giác của tôi. Không còn gì trên thế gian khơi gợi, xúi dục được tôi nữa, thân tàn ma dại giữa biển đời mặn chát. Vốn dĩ đã yếu thế, nay còn thêm ngàn mối sợ, sợ đời sống như sợ sự trần trụi. Hãy cho tôi được chìm đắm tận đáy đời nhớp nhúa nhất cũng cam, còn hơn sống ngưng đọng lửng lơ. Cảm giác sống mà luôn muốn được giải thoát khỏi đời sống, hoặc tự muốn nấp trốn, xa lạ ngay trên chính quê hương của mình thực lòng rất thống thiết. Chỉ còn lại một sự tật hoạn, tật hoạn tinh thần, tôi không còn gì để chiến đấu, cũng chẳng quay trở về bản năng. Chỉ có thần chết mới là thầy thuốc ở đây. Tôi đau một cơn đau dài, 25 năm rồi, 25 năm đời sống vẫn minh bạch sự lành lùng tàn nhẫn với thân tôi. Bất công đối với thế giới dường như mang tính qui luật. Khi chúng ta sinh ra có kẻ nơi lầu son gác tía, người thì đầu sông cuối bãi và khi chết đi kẻ được xây thành quách kiên cố, người thì vất vưỡng nơi đầu đường xó chợ, không mảnh chiếu đắp thân. Cho nên con người luôn phải đấu tranh, đối kháng, dẫm đạp, quay cuồng để tìm chỗ đứng tốt đẹp hơn dưới bóng mặt trời. Và sự đào thải khắc nghiệt đó là thực tế mà vạn vật phải đương đầu chấp nhận. Nếu có chén thuốc độc ở đây tôi sẽ uống ừng ực cho hết sạch, bởi vì mỗi ngày tôi đều can đảm hơn khi đối diện với cái chết. Bản thân như một ngọn núi lửa chưa nứt miệng, chứa đựng đầy khát vọng dung trộn với ảo tưởng. Một ngày nó sẽ phun trào dung môi theo cách của một mảnh xác phàm hấp hối. Tôi không dám soi mình trong bóng mắt người đời để được cởi mở sẻ cho đôi điều nhận xét khách quan và định hướng một sự thay đổi, vốn dĩ tôi quá cố chấp, cố chấp bám giữ cái lập trường của kẻ bất lực với sự mập mờ trong lý lẻ, phương châm và mục đích sống. Vậy tôi đang thuộc dạng tồn tại, tồn tại như một thứ người không xương sống với nổi khổ hình khủng khiếp trong tim. Đã lâu rồi tôi không nghe được tiếng nói của bố mẹ, chỉ đơn thuần thăm hỏi qua những dòng tin nhắn, nhưng lòng tôi nặng trĩu hình bóng quê nhà. Tôi biết bố mẹ cũng chỉ một phương vô cùng nhìn về tôi. Nhưng họ tránh làm phiền để tôi được an tâm, đôi ba dòng tin nhắn của bố nói rằng ở nhà vẫn khỏe, mọi việc vẫn ổn, con cứ bình tĩnh làm việc... nhưng tôi biết bố mẹ rối bời biết bao khi đối diện với già yếu, cô độc, bệnh tật mà tôi thì còn điêu linh nơi đất khách quê người với một trạng thái tâm lý đầy bi quan. Tôi đã thực hiện nhiều cuộc ướm thử năng lực, nhưng rồi may mắn vẫn chưa đến để có thể tạo bước ngoặc. Đời trui rèn tôi thành thứ không phải tinh hoa, chẳng cặn bả. Một con vật ưa bóng tối để tránh mọi đối mặt, phô bày. Đến một lúc nào đó chữ nghĩa cũng không còn là sợi chỉ mong manh nối kết tôi với cuộc sống nữa, thì tôi sẽ êm ái chối từ sự hiện hữu của chính mình. Viết như một cách lắng nghe cơ thể, tim óc của mình, hiểu được nó đang đau đớn đến độ nào, dữ dội đến độ nào, suy nhược đến độ nào và như một cách để cố vin níu cứu chữa, tự cứu chuộc lấy sự sống mỏng mảnh. Hạnh phúc không thể đến một cách tình cờ, có ai đó đã nói với tôi vậy. Nhưng tôi không hề trả lời được câu hỏi hạnh phúc là gì? dẫu tôi là một giáo viên, nhà quản trị tư duy, kĩ sư tâm hồn... tâm hồn tôi đã quá xanh xao vì mãi ẩn chìm trong bóng tối không dẫn lối chỉ đường, cho nên bất lực trong việc trưng ra một lý lẻ cho điều hạnh phúc. Có ai nói hạnh phúc ở trong ta, chắc có lẽ vậy, khi mình cảm giác hạnh phúc thì mọi thứ sẽ yêu đời và ngược lại. Và tất nhiên/ đáng tiếc tôi không có tinh thần hướng lợi để thấu cảm được niềm hạnh phúc trong cuộc sống. Một bầu lãnh khí âm u mộ địa đang choán đầy tâm trí, xâm hại linh hồn, đày đọa định mạng trong cằn cỗi đau thương. Ở đời mọi đồng cảm, thông hiểu chỉ có thể xảy ra khi những tâm hồn đã từng nếm trải mùi vị, sắc độ đau khổ giống nhau đó. Tôi cố đi tìm một ai đó có thể sẻ chia nhưng đều được nhận lại những lắc đầu xua tay. Bởi lẽ họ đều nhìn tôi mà phán xét rằng trong cái diện mạo đầy tự tin và sĩ khí đó không thể chứa đựng một tâm hồn đau đớn, có chăng là sự trá hình giả dạng. Chính vì thế tôi đã đi tìm trong tuyệt vọng một sự phức hợp nào đó có thể lắng nghe tôi thở than đôi điều về những bất lực sinh tồn của mình. Kẻ mạnh là kẻ trong nghịch cảnh họ cố gắng chuyển lay, hoặc họ trở nên như quái thú hận thù và nỗi loạn chống lại tất cả, ít ra họ phi thường hơn khi đối diện với trắc trở khó khăn. Còn bản thân tôi muốn im bạt, nằm ải đợi chờ, đợi chờ cho những kết thúc, chỉ thế mà thôi. Thái tử Sidatha, người tồn tại cách đây đã lâu lắm rồi, thế nhưng lý lẻ của ông còn tồn nghi đến đương đại. Ông đã từ bỏ những thứ thuộc về đàn ông để tìm đường diệt khổ, và chính ông đã vén được bức mành vô minh ít nhất cho chính mình và cho muôn kiếp nhân sinh. Ông nói rằng dục vọng đã sinh ra đói khát, đói khát chính là khổ đau. Chính vì thế chỉ có một điều dục vọng duy nhất có thể làm cho con người hạnh phúc đó là dục vọng về sự vô vọng, vô cầu. Nghĩa là đừng tìm cầu bất cứ điều gì trong cuộc sống, bởi vì đời là bể khổ. Ngài ấy thực sự là một đấng cải tạo tinh thần vĩ đại, đã nhìn thấy được chân tượng của sự khổ đau nơi bể khổ bến mê. Thế nhưng đạo lớn xa xôi quá, hơn hai ngàn rưỡi năm theo bước chân ngài thế gian vẫn trôi đến bờ tuyệt tử. Lý lẽ của Ngài đang dần bị phai mòn, hư hao, khảo tra của hậu thế. Chính vì thế đã có vô số các sứ giả khác bước lên vũ đài đòi kiến lập lại quan điểm về lẽ huyền vi của vũ trụ và vận mệnh của muôn vật muôn loài. Thời kì mạt pháp với nhiều những hỗn mang trong tín điều tư tưởng đã tạo ra một lớp người điên cuồng sống theo cảm nghĩ, cá tính của riêng mình, đối kháng lại tất cả những nền tảng luân lý đã bắt rễ cắm sâu vào lòng đời. Tôi cũng có lý lẽ của riêng mình, xem cái chết, cảm thức về cái chết như một tín ngưỡng đẹp nhất trong lòng. Tôi từng tha thiết vẻ đẹp của một gia đình truyền thống, tôi trở thành một gia công sư phạm mẫu mực làm rạng rỡ về phẩm cách phong nhã cho gia đình dòng họ, nếu được sẽ cố gắng né tránh những mối vật lợi ở đời để sống tươi thơm hơn. Thế nhưng, đời vốn dĩ không như bức tranh ta vẽ, hoặc tranh vẽ méo mó thì có thể sửa đổi, tẩy xóa, cân chỉnh. Còn thực tế cuộc sống khó thực hiện các động tác để đóng khuôn theo định dạng, sở thích của chính mình, tất cả đều có thể bị bóp méo, đẩy xô cho đến nỗi kì thai quái thể. Cuộc sống, suy nghĩ và tư tưởng của tôi đang rất đơn độc, đơn độc giữa tốc độ tua nhanh đến khủng khiếp của sự phát triển xã hội. Và chính tôi miệt thị chính mình, dường như tôi trở thành điều đại bất hạnh cho những người thân của tôi, khi tôi đã không còn ý chí đương đầu với sự tréo ngoe ở đời. Tôi biết phải làm sao, giữa ngàn đao vạn đòn đang va đập vào tấm thân người vô lực, tối tăm, thảm thương và đơn côi. Mà thực ra tôi đòi hỏi một kết nối, một người thấu hiểu nhưng chính tôi lại không muốn thấu hiểu người. Tôi ích kỉ quá chừng, còn bao nhiêu những thân phận như tôi cũng đang cắn răng chịu đựng trong cái thành phố vạn nhịp bước róng riết mưu sinh này. Đêm đêm trong những khu trọ ủ dột, nơi những gầm cầu bãi bờ còn biết bao thân phận rẻ rúm, tàn mạt đang chống lại sự dày vò, chà đạp của màn đêm. Không ai sẻ chia với ai cả, thành phố này, cuộc sống này người ta còn bận thương chính mình. Còn lại tiếng trùng, tiếng vo ve, tiếng của những kiếp sống đã bị bỏ non nào đó đang hòa lẫn trong màn đen sâu thẳm. Con thực lòng mệt mỏi lắm mà! nhưng bố mẹ những người thân thương đâu thể biết được. Vì con đã yếm dấu tất cả để trong lòng bố mẹ không phiền lụy, không bận lòng xót xa. Sự khảo nghiệm trong vòng 26 năm qua thực sự làm tôi đã quỵ ngã trước những đòn đau của số phận. Tôi đã buông rồi những khát khao, ngấp ngoải giữa cuộc đời đầy sáo niệm. Nhân sinh đâu dễ dàng gì, một kiếp sống ngắn ngủi sao thật khó khăn. Cuộc sống này ai cũng đã rời bỏ những tầm cao tư tưởng để chạy theo mục đích đồng tiền, tôi thì lạc lối trong những kinh viện xa lạ với những giá trị thực hữu. Tôi 








Thứ Tư, 10 tháng 8, 2022

"Chảy về đâu" -thơ Trần Thu Hà

Dấu ấn đầu tiên khi đọc thơ Trần Thu Hà nói chung và bài thơ "Chảy về đâu" nói riêng là cách lên khung chữ nghĩa, với hệ thống từ xâu thành chuỗi dài phải rướn cổ đọc, rồi lại đứt đoạn bẻ những khúc ngoặt rất dụng ý. Đọc thơ Trần Thu Hà thực sự thỏa mãn về cảm thức ngôn ngữ. Nhà thơ đã tạo được vần nhạc trôi chảy không một gút sợi, nhưng lại bằng cách ghép chữ có chỗ dường như phi lý về mặt ngữ nghĩa. Trước hết thơ Trần Thu Hà đã cuốn rủ người đọc bằng giọng điệu lạ, tứ thơ độc đáo và có sự cách tân trên nhiều phương diện. Điều đó đã tạo nên niềm phấn hứng cho quá trình tiếp nhận của độc giả. Hồn thơ Trần Thu Hà bộc lộ sự phưu lưu hư ảo, chủ thể cảm xúc rất nữ tính nhưng cực kì kiêu sa, diễm lệ và đôi khi đốt cháy cảm xúc một cách dữ dội.



"Chim bói cá bất mãn kéo co với bình minh giành giật sự sống với người, lươn, rắn nước cuộc phiêu diêu ngàn năm.

Chảy về đâu?

Em giẫy chết trong gương bởi trận cười thế kỷ, thôi mặt người thôi vội múa mi cong

Em miết thời gian lên dấu khói, mà đâu xóa được dấu vân tay ngoãn mục, mà đâu ngăn được tiếng nức nở cầu xin Thượng đế, con đường thôi ruột gà, sỏi đá, phân trâu

 

Em đã vét nhẵn đấu mồ hôi trên vú mẹ

Lớn lên

Chòng chành thác người

Hoàng hôn em từ buổi bình minh

Rồi một ngày em phát tài trên đường biên ký ức trái ngực uống cạn trăng dồn mây thành áp thấp kẻ đường viền trên mắt bão kiêu sa

Em thôi buồn, mình trần, tóc mây kiễng chân làm tình với sao bên dốc người chạng vạng

Đêm đêm giấc mơ mổ vào quả trứng chú vịt con xoè đuôi giục vọng, tưởng che được hết bầu trời, tưởng mình là đốm thiên di…

Lấp lánh ước lệ trái vú đam mê quên đường về, những ngón tay búp măng bấm vào đức hạnh nắn mãi không tan giọt dại khờ.

Một ngày.

Em khóc đổ mùa, cố nhào nặn niềm vui đại hạ giá bằng dấu chấm hỏi cổ đại

Chảy về đâu?"

 (Đang quá trình viết...)






  Nam cao, nhà văn “ưu việt”. Người bạn đồng minh muôn thưở của những người nông dân khốn quẩn, những kiếp sống lao khổ, những linh hồn bị l...