Nguyễn Du, Đại thi hào- nhà sáng tạo văn hóa lớn nhất của dân tộc Việt Nam. Tên tuổi, sứ mệnh, sự cao cả của ông gắn liền với tác phẩm Đoạn trường tân thanh (Truyện Kiều). Đó là một tuyệt phẩm mang tầm vóc thời đại kể về cuộc đời thống ngự đầy rẫy khổ đau của một “phận hồng
nhan”. Đoạn trích Trao duyên trích từ Truyện Kiều là sự “mở màn” cho “tấn tuồng
đời thập tải phong trần” của Vương Thúy Kiều với những ưu uất dằn vặt ơn trả
nghĩa đền.
Kiều được
Nguyễn Du vận bút từ cốt truyện Kim Vân Kiều Truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, từ vốn liếng
điển học uyên sâu, từ những chứa chan của ngàn năm làm người, từ cái đạo học
sâu xa, từ sức sáng tạo tuyệt vời, để tạo thành một thi phẩm đích thực về thân
phận con người trong cuộc dâu bể.
Kim Vân Kiều Truyện là “vai phụ mờ nhạt” trên sân khấu văn
chương Đại Hoa chứ chưa nói đến thế giới. Còn bản thân Đoạn trường tân thanh
lại là một tuyệt tác “xuyên không”. Đã trải qua bao biến đổi bể dâu về nhân tình
thế thái, quan niệm xã hội và ngay cả bản thân văn hóa, văn học cũng có nhiều biến đổi bạo liệt. Thế nhưng câu chuyện đời Kiều cho đến bây giờ
vẫn “lời qua tiếng lại” và tốn không ít giấy mực, gây không
biết bao “xích mích” trong giới “Kiều học” và mở ra những cuộc đàm luận sôi động nơi
trà đình tửu quán. Chính tài năng của Nguyễn Du đã giúp tác gia vượt qua sự quy
cáo vi phạm nghiêm trọng tác quyền Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài
Nhân.
Trao Duyên (từ
câu 723- 756) nằm trong phần “Gia biến lưu lạc” là khúc ngoặt mở ra cuộc “thập
tải phong trần” của một “đóa trà my”. Trong chuỗi hiếu- tình- mình vấn vít quanh
đời Kiều thì màn trao duyên này chính là báo đáp chữ tình. Với nỗi khổ hình
trong tim, Kiều đã nghẹn ngào gửi duyên cho em gái để trọn lời nguyện thề
đã từng với Kim Trọng.
“Cậy em em có chịu lời
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ
thưa”
Mở đầu đoạn
trích, Kiều đặt mình vào vị trí của kẻ "thất thân". Đạo hiếu xem như đã
trọn, trước lúc ra đi Kiều dằn lòng “ép duyên” Thúy Vân với Kim Trọng. Buộc em
gái phải đến bên một người mà mình không thương, lại còn là tình nhân của chị.
Việc gửi duyên này tuân theo nếp thói nho giáo và có thể là “cực đoan” xét
trong bối cảnh đương đại. Thế nhưng ở phương diện nền nếp cổ truyền, khi chị đã
nguyện hiến hi sinh, phận làm em có “bổn ý” phải sẻ bớt gánh nặng. Nguyễn Du đã
thể hiện sự vén khéo tài tình trong dụng chữ để tạo nên một không khí trang
nghiêm đẫm lệ. Lời lẽ là sự “cậy” “nhờ”, “lạy” “thưa”, thế nhưng hàm chứa trong
đó là niềm tin trao gửi, sự hi vọng mong cầu, sự thống thiết van lơn và có cả
vai trò của một người chị khi sắp xếp chuyện gia đình. Sau những lời nhọc nhằn khơi mở nỗi lòng, Kiều khơi mạch giãi bày những tâm sự sâu kín:
“Kể từ khi gặp chàng Kim,
Khi ngày quạt ước khi đêm
chén thề
Sự đâu sóng gió bất kì,
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn
hai.”
Truyện Kiều cũng có thể xếp vào truyện tài tử giai nhân (ngôn tình). Tuy chàng Kim trong Kiều rất "nhạt" so với đặc trưng của những truyện kể về tài tử giai nhân khác, thậm chí Chàng là nguyên cớ mở ra mười lăm năm gió bụi của nàng Kiều. Và nhân vật Kim Trọng dường như không để lại nhiều ấn tượng nội tâm với người đọc, kể cả so sánh với Thúc Sinh và Từ Hải. Tuy chỉ diện bằng vài nét chấm phá, thế nhưng thông qua những tâm tư ruột gan của Thúy Kiều đã hiển lộ một ngọn lửa tình nồng nàn tha thiết từng rực cháy và dẫu mười lăm năm với bao ngiêng ngã phong trần vẫn chưa phai mòn hư hao. Với những hình ảnh từ điển cố, điển tích: “quạt ước”, “chén thề”, Kiều giăng tỏa trong tâm hồn một nỗi sầu thê thương, gọi về những dấu yêu ước nguyện dưới nguyệt sáng gương trong, mà giờ đành bội lãng bởi:
“sự đâu sóng gió bất
kì
“Hiếu tình khôn lẽ hai về vẹn
hai.”
Ngàn năm
đạo hạnh của Á Đông đúc kết trong câu thơ trên. Thúy Kiều “tài cao tình trọng”
lấy hiếu làm đầu. Trải qua những đau thương mất mát, giữa màn đêm đầy “dâm nhơ
đắm nhiễm” mới “giật mình mình lại thương
mình xót xa”. Trong ngày du xuân gặp “mả tình”, từ đó đã chiếu ứng vào thân
phận bèo trôi sóng vỗ của Kiều. Trước những đau đớn hoang tàn vẫn tỉnh trí mà
vén khéo về tình- hiếu. Thật đáng xiển dương đức hạnh của một kì nhân.
“Ngày xuân em hãy còn dài
Xót tình máu mủ thay lời nước
non
Chị dù thịt nát xương mòn
Ngậm cười chín suối hãy còn
thơm lây”.
Những câu thơ “gợi
khổ” cô nén một nỗi "can tràng tấc đoạn". Sinh ra cùng ngày cùng tháng cùng năm
song Kiều lại nói với Vân rằng “Ngày xuân em hãy còn dài”, Kiều đã dự liệu về
cái chết? Không đơn giản là cái chết mà cả sự bất khiết của kiếp đoạn trường: “Sống làm vợ khắp người ta/ hại thay thác xuống làm ma không
chồng”. Lời văn ý văn trang trọng đầy tang tóc, ngôn từ “mỹ ý” như lời nhả trối
cuối cùng. Thúy Kiều trong tâm trạng ngổn ngang, nhiều ưu tư rên xiết mà tha
thiết khẩn nguyện em mình.
Dường như Vân đã
“chịu lời”, Kiều đem kỉ vật tình yêu mà trao gửi cho em. Đó là chút tình tri
ân, kỉ niệm hiện tồn biểu tượng của những “mộng ban đầu” nay đã trôi dần vào
địa mộ thời gian. Phải chăng là “đạo tình” (khái niệm tình yêu đã bị đánh tráo)
đồng quy nó vào mẫu số chung của đạo đức luân lý. Tình yêu là cảm xúc đột phát
không tuân thủ theo những logic của lý trí. Tình yêu luôn có sự cất lời sinh
động và riêng biệt. Thế nhưng ở đây dường như không còn là chữ yêu vì yêu không
thể san sẻ một cách tùy tiện nói trao là được, nói gửi là xong. Chị em Thúy
Kiều đang trong tâm thế của sự hi sinh, tất cả vì hai chữ hiếu trung, giá trị
hàng đầu và cốt lõi nhất trong cương thường đạo lý. Để từ đó chúng ta hiểu được
“hiếu hạnh” trong nền giáo dục “mực tàu chữ nho”.
Vẫn còn lưu dấu những
chân tình, Kiều còn luyến nhớ, còn tiếc nuối nhưng đành đoạn tuyệt bứt lìa cũng
vì số phận đã sắp xếp và định khung cho cuộc đời đầy biến cố trắc trở của mình.
Mang theo “phím đàn” (tương tư khúc), “mảnh hương thề nguyền” (khói dĩ vẵng)
lòng chẳng đặng nguôi ngoai, Kiều mang âu sầu vào mê ảo trầm luân.
Lặng lẽ, hoang liêu,
phiêu tán:
“Mai sau dù có bao
giờ
Đốt lò hương ấy so tơ
phím này
Trông ra ngọn cỏ lá
cây
Thấy hiu hiu gió thì
hay chị về
Hồn còn mang nặng lời
thề
Nát thân bồ liễu đền nghì
trúc mai.
Dạ đài cách mặt khuất
lời
Rưới xin giọt nước
cho người thác oan.”
“Mả tình” Đạm Tiên
thoáng qua trong tiết thanh minh và cuộc gặp gỡ trong chiêm bao với “ca nhi” đã
trở thành khúc ngoặt trong cuộc đời vốn dĩ “Êm
đềm trướng rũ màn che” của Vương Thúy Kiều. Trong cơn “mê thần mộng” Đạm
Tiên đã ám thị về tên Kiều trong sổ đoạn trường và kiếp đời “phận mỏng cách chuồn” của mình. Từ đó
Kiều bước vào tuyệt lộ, trong miền vô thức nàng luôn chịu phong bế của sự thác
oan. Trong cơn sống sượng thương đau sau những lời trao duyên, nàng ý thức về
cái chết trong niềm tin tâm linh. “Tình
là giây oan”, con người nàng đã chìm đắm trong ái nhiễm tình yêu để giờ
chạm đáy tuyệt vọng mà đọa đày tâm trí trong những ảnh tượng khói sương.
Đoạn thơ mở ra một không
gian tâm tưởng ngổn ngang, giăng mắc đầy bi cảm, thấu rõ nỗi “quỷ khốc thần sầu”
với sự quấn bện, kết chặt của sợi dây tình ái trong cõi hồng trần. “Ái sinh
hận- tình sinh vong”; “Hỡi thế gian tình
là chi?” mà khiến con người rơi vào khổ sầu vô biên. Kiều đã thắp lên ngọn lửa
thề nguyền, ngọn lửa dục vọng, giờ nàng đương trong cơn lửa đói khát đoàn tụ và sẽ trở về với ngọn lửa hỏa thiêu. Thân mệnh tàn tro nhưng khói tinh thần vẫn
mang những oan khiên bám riết lấy cuộc đời mà lê gót phiêu linh trong ngọn gió
cỏ cây.
“Bây giờ trâm gãy gương tan
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân
Trăm nghìn gửi lạy tình quân,
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy
thôi
Phận sao phận bạc như vôi!
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ
làng”.
Trước mặt Thúy Vân,
khi đã đổ cạn những giọt lệ đắng cay. Sắp bước vào khổ hải trầm luân, Kiều lại
khơi đống tro tàn mà nhen lò kỉ niệm đặng một mình đốt sưởi trong quặn thắt
thương đau. Đó chính là “Đoạn trường tân thanh”, tiếng kêu vang lạnh đất trời,
từng nấc lăng trì, gióng lên từng hồi thê thiết của một đời hồng nhan. Lời nhả
trối giã biệt, gửi chút tri ân cho người ở lại, tỏ bày những hối tiếc muộn màng
cho mối nhân duyên đã kề ngày đàm hôn luận gả mà đột ngột “trâm gãy gương tan”.
Oán thán về thân phận bần bạc của mình và đành lỡ hẹn với yêu thương, đắm khát
như con tàu giữa mịt mùng giông bão và rồi bật mở những tiếng thảng thốt sau
cùng:
“Ôi Kim Lang! hỡi Kim Lang
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ
đây”
Trong da diết nghẹn
ngào, hai tiếng Kim Lang được thốt lên hai lần trong sự tan nát cõi lòng. Nàng
đang “độc thoại kép” để tự nhận mình là kẻ phụ tình cũng là sự tỏ bày, minh
chứng cho tấm lòng rất mực thủy chung, tình sâu nghĩa nặng với “tình lang”. Nàng
đâu có lỗi, lỗi nằm ở định mệnh, ở xã hội xảo trá vô luân khi đồng tiền làm hao
mòn nhân cách. Chuyện tình yêu trong bể khổ bến mê này hầu như đều kết thúc
trong nỗi thống thiết. Kiều- Kim cũng vậy, tình lửa rơm bạo phát bạo tàn. Dẫu
hẹn cùng nhau non mòn biển cạn nhưng tình sử trong văn thơ trăm vạn quyển của
thế gian có mấy khi được viên mãn, trải qua thăng trầm gió bụi rồi vẫn đổ vỡ
trong mộng tưởng bi ai.
Có thể nói rằng đoạn
múa bút này trác tuyệt trong 3254 câu. Viết về chữ hiếu và trả hiếu thì dễ
nhưng về chữ tình thì thực lòng khó biểu đạt. Bởi vì khi dụng bút phải tế vi am
tường về cõi tinh thần và chiều sâu bi kịch hay nói cách khác là cắt nghĩa công
phu nhân cảm của con người là điều không hề dễ. Nhưng Nguyễn Du bằng sở học
chuyên tinh, ngòi bút linh động và sự cảm ngộ nhân sinh sâu thâm đã tô kẻ đậm
lạt những nét vẽ nội tâm hết sức khó nắm bắt của Vương Thúy Kiều để viết về Trao
duyên đầy hành vi tâm lý phức tạp của con người.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét